Mỗi mùa nồm, nền nhà trơn trượt, đồ gỗ ẩm mốc, dù đã lát gạch mới vẫn không cải thiện. Thực tế, nhiều công trình làm sai ngay từ cấu tạo nền, không bám quy chuẩn xây nền nhà chống nồm. Dựa trên TCVN 9359:2012, bài viết này giúp bạn hiểu nền nhà cần bao nhiêu lớp, dùng vật liệu gì, dày bao nhiêu là đủ, để áp dụng được ngay khi xây mới hoặc cải tạo. Vận Tải An Khang tổng hợp, diễn giải lại theo ngôn ngữ thi công thực tế, giúp bạn tránh làm sai từ đầu và không phải sửa chữa tốn kém về sau.
Contents
- 1 Quy chuẩn xây nền nhà chống nồm thực chất là gì ?
- 2 Vì sao nền nhà bị nồm, dù đã chống thấm?
- 3 Nguyên tắc cốt lõi trong TCVN 9359:2012 giúp đọc một lần là hiểu
- 4 Cấu tạo nền nhà chống nồm theo tiêu chuẩn ra sao ?
- 5 Vì sao chọn vật liệu theo TCVN 9359:2012 lại quyết định nền nhà có bị nồm hay không?
- 6 So sánh nhanh các lựa chọn phổ biến: EPS, gạch gốm bọt, xỉ lò cao dạng hạt
- 7 Nhà xây mới nên áp dụng quy chuẩn thế nào để tránh nồm ngay từ đầu?
- 8 Nhà cải tạo, không hạ cốt nền được vẫn có cách bám tiêu chuẩn
- 9 Vì sao nhà đã lát sàn mà nhà vẫn có nồm ?
- 10 Có cần tính hệ số Y, D như tiêu chuẩn không, hay chỉ cần làm theo mẫu?
- 11 6 mẫu cấu tạo điển hình trong TCVN nên hiểu như “menu lựa chọn”
- 12 Lớp không khí kín có phải “mẹo” thay cách nhiệt không?
- 13 Thi công nền nhà chống nồm và các điểm kiểm soát quan trọng nhất
- 14 Những hiểu lầm phổ biến khiến chống nồm sai hướng
- 15 Quy trình ra quyết định khi áp dụng quy chuẩn xây nền nhà chống nồm
Quy chuẩn xây nền nhà chống nồm thực chất là gì ?
Nhiều người gọi “quy chuẩn” như một cách nói quen miệng. Trong kỹ thuật xây dựng, cần tách hai khái niệm. Quy chuẩn thường mang tính bắt buộc theo phạm vi áp dụng. Tiêu chuẩn thường mang tính khuyến nghị, dùng làm căn cứ thiết kế.
Với nền nhà chống nồm, tài liệu được trích dẫn phổ biến là TCVN 9359:2012 – Nền nhà chống nồm: Thiết kế và thi công. Nội dung tiêu chuẩn này nêu phạm vi áp dụng cho nền tầng trệt, có tiếp đất. Tiêu chuẩn cũng nhấn mạnh vùng khí hậu miền Bắc và phía bắc miền Trung. Thông tin này nằm ngay phần “Phạm vi áp dụng” của TCVN 9359:2012.

Nói theo cách thực dụng hơn, “đúng chuẩn” nghĩa là nền nhà được cấu tạo sao cho bề mặt sàn không lạnh hơn điểm sương của không khí ẩm. Khi điều kiện đó được đáp ứng, nồm sẽ khó xuất hiện. Đây là cách hiểu giúp chủ nhà kiểm soát chất lượng thi công. Mục tiêu như vậy dẫn thẳng đến quy chuẩn xây nền nhà chống nồm.
Vì sao nền nhà bị nồm, dù đã chống thấm?
Nồm không chỉ là “nước từ dưới đất lên”. Nồm là hiện tượng hơi nước trong không khí ẩm ngưng tụ trên bề mặt lạnh. Trong TCVN 9359:2012 định nghĩa rõ: khi nhiệt độ bề mặt kết cấu thấp hơn nhiệt độ điểm sương của không khí ẩm, hiện tượng ngưng tụ xảy ra.

Bạn có thể hình dung bằng ví dụ rất đời thường. Một ly nước đá để trong phòng sẽ có giọt nước bám ngoài thành ly. Nền nhà cũng tương tự, chỉ khác ở chỗ “nước đá” là kết cấu sàn lạnh. Không khí ẩm là nguồn hơi nước. Khi trời nồm, độ ẩm tương đối cao, điểm sương tăng. Bề mặt sàn lạnh hơn điểm sương, nước sẽ “đọng” trên mặt.
Vì vậy, chống thấm chỉ xử lý dòng nước lỏng đi qua vật liệu. Chống thấm không giải quyết chênh lệch nhiệt. Nếu thiếu lớp cách nhiệt, bề mặt vẫn lạnh, ngưng tụ vẫn xuất hiện. Lúc đó, bạn thấy sàn trơn, đồ gỗ ẩm, chân tường mốc. Đó là lý do nhiều nhà “chống thấm rồi vẫn nồm”. Cách tiếp cận đúng phải bám vào quy chuẩn xây nền nhà chống nồm.
Nguyên tắc cốt lõi trong TCVN 9359:2012 giúp đọc một lần là hiểu
TCVN 9359:2012 đưa ra hai nhóm giải pháp. Nhóm thứ nhất là cấu tạo nền hợp lý. Nhóm thứ hai là biện pháp cưỡng bức, như hút ẩm hoặc điều hòa. Tiêu chuẩn cũng lưu ý phạm vi chính chỉ bàn sâu nhóm cấu tạo. Phần cưỡng bức chỉ nêu nguyên tắc.
Điểm hay của tiêu chuẩn nằm ở tư duy vật lý. Nền nhà chống nồm cần được thiết kế bằng các lớp vật liệu có tính năng nhiệt phù hợp. Khi các lớp được chọn đúng, nhiệt độ bề mặt sàn thay đổi nhanh theo môi trường. Bề mặt không rơi xuống dưới điểm sương, nên không “đổ mồ hôi”.

Một tham số xuất hiện trong TCVN là hệ số hàm nhiệt bề mặt của kết cấu nền, ký hiệu Y. Tiêu chuẩn mô tả Y gắn với khả năng chống nồm. Giá trị Y càng nhỏ, khả năng chống nồm càng cao. TCVN nêu khoảng tham khảo, trong đó có đoạn thể hiện Y có thể nằm khoảng 0,024 đến 0,006 W/m²·K, tùy cấu tạo. Đây là số liệu kỹ thuật trong phần tính toán của tiêu chuẩn. Dù bạn không tự tính, ý nghĩa vẫn rất rõ. Cấu tạo hợp lý mới là “gốc” của quy chuẩn xây nền nhà chống nồm.
Cấu tạo nền nhà chống nồm theo tiêu chuẩn ra sao ?
Thợ giỏi thường nói “nền phải có lớp”. Câu đó đúng, nhưng cần nói rõ lớp nào. Theo TCVN 9359:2012, nền có thể gồm các lớp cơ bản theo thứ tự từ trên xuống. Bạn có lớp mặt sàn. Bạn có lớp liên kết hoặc chống thấm bảo vệ. Bạn có lớp cách nhiệt. Bạn có lớp ngăn nước mao dẫn. Bạn có lớp bê tông chịu lực. Cuối cùng là đất nền đầm chặt.

Cấu tạo mẫu thường nhắc đến 6 lớp trong đó:
- Lớp 1 là vật liệu mặt.
- Lớp 2 là lớp cách nước.
- Lớp 3 là vật liệu cách nhiệt.
- Lớp 4 là lớp cách nước bảo vệ.
- Lớp 5 là lớp bê tông chịu lực hoặc bê tông gạch vỡ.
- Lớp 6 là đất nền đầm chặt.
Điểm cần nhớ là vai trò từng lớp. Lớp mặt phục vụ thẩm mỹ và chịu mài mòn. Lớp cách nhiệt quyết định nhiệt độ bề mặt. Lớp ngăn nước giúp vật liệu cách nhiệt không bị ẩm. Lớp chịu lực giữ ổn định nền. Đất nền đầm chặt giảm lún. Khi bạn nắm vai trò, bạn kiểm tra thi công dễ hơn rất nhiều. Từ đó, bạn bám sát quy chuẩn xây nền nhà chống nồm mà vẫn nói chuyện được với đội thi công.
Vì sao chọn vật liệu theo TCVN 9359:2012 lại quyết định nền nhà có bị nồm hay không?
Khi nói đến quy chuẩn xây nền nhà chống nồm, nhiều người thường chỉ chú ý đến chống thấm mà bỏ qua việc chọn vật liệu cho từng lớp nền. Trong TCVN 9359:2012, phần lựa chọn vật liệu được quy định khá rõ, vì mỗi lớp nền đảm nhiệm một vai trò khác nhau. Nếu chọn sai vật liệu, nền nhà vẫn có thể bị nồm dù đã hoàn thiện đầy đủ.
Với lớp mặt sàn, tiêu chuẩn khuyến nghị dùng vật liệu có độ dày vừa phải. Cụ thể, gạch men sứ nên dày không quá 7 mm, gạch gốm nung khoảng 10 mm, vật liệu composite khoảng 7 mm, còn sàn gỗ hoặc ván thường dưới 20 mm. Những con số này không phải để “làm đẹp”, mà để kiểm soát khả năng giữ nhiệt của bề mặt sàn.
Lớp mặt càng dày thì sàn càng khó thay đổi nhiệt độ. Khi trời nồm, bề mặt sàn giữ lạnh lâu, trong khi không khí ẩm bên trên nóng hơn. Sự chênh lệch này khiến hơi nước dễ ngưng tụ, tạo cảm giác nền nhà lúc nào cũng ướt. Vì vậy, tiêu chuẩn có xu hướng khuyến nghị lớp mặt mỏng, nhưng vẫn đảm bảo độ bền khi sử dụng lâu dài.
Với lớp cách nhiệt, TCVN 9359:2012 ưu tiên các vật liệu nhẹ, ít tích nhiệt. Một ví dụ phổ biến là xốp polystyrene (EPS) có khối lượng thể tích trong khoảng 35–60 kg/m³. Ngoài ra, tiêu chuẩn còn đưa ra yêu cầu về khả năng chịu nén, chẳng hạn cường độ Rn từ 200 N trở lên trong một số cấu tạo. Điều này nhằm đảm bảo vật liệu không bị xẹp khi lát sàn, đồng thời vẫn giữ được khả năng cách nhiệt cần thiết.
Với lớp ngăn nước, tiêu chuẩn cho phép sử dụng giấy dầu, màng polyetylen, sơn bitum cao su hoặc vữa xi măng cát mác 7,5–10. Lớp này không phải để chống nồm trực tiếp, mà để bảo vệ lớp cách nhiệt bên dưới khỏi hơi ẩm. Nếu vật liệu cách nhiệt, như EPS, bị ẩm trong thời gian dài, hiệu quả chống nồm sẽ giảm rõ rệt.
Hiểu đúng vai trò của từng lớp và bám sát các mốc vật liệu trong tiêu chuẩn sẽ giúp nền nhà hoạt động đúng chức năng. Khi đó, bạn không chỉ làm theo tài liệu kỹ thuật, mà đang áp dụng quy chuẩn xây nền nhà chống nồm theo cách phù hợp với nhà ở thực tế.
So sánh nhanh các lựa chọn phổ biến: EPS, gạch gốm bọt, xỉ lò cao dạng hạt
Thực tế nhà ở thường xoay quanh ba nhóm vật liệu. Mỗi nhóm có điểm phù hợp riêng. Bạn nên chọn theo bài toán công trình, thay vì chọn theo thói quen.
EPS cường độ cao thường nhẹ, thi công nhanh, dễ kiểm soát chiều dày. TCVN có mẫu cấu tạo dùng EPS dày khoảng 15–25 mm, đi kèm yêu cầu Rn và khối lượng thể tích. EPS phù hợp nhà cải tạo cần lớp mỏng. EPS cũng phù hợp nhà mới cần kiểm soát cao độ.
Gạch gốm bọt thường có tính cách nhiệt tốt, lại chịu lực tương đối. Tiêu chuẩn có ví dụ cấu tạo với gạch gốm bọt dày 20 mm hoặc 60 mm, kết hợp với keo dán, hoặc hồ xi măng. Trong bảng kỹ thuật, gạch gốm bọt còn được phân cấp theo thông số. Với nhà dân, điểm quan trọng là chất lượng vật liệu đồng đều.

Xỉ than lò cao dạng hạt xuất hiện trong phụ lục mẫu. TCVN có mẫu nền dùng xỉ lò cao dày lớn, như 200 mm trong một cấu hình. Vật liệu này có thể phù hợp nền mới khi có không gian chiều dày. Nó cũng phù hợp khi cần lớp cách nhiệt dạng rời. Tuy vậy, thi công cần kiểm soát độ chặt và độ ẩm.
Không có lựa chọn “tốt cho mọi nhà”. Có lựa chọn “hợp tình huống”. Khi bạn biến bảng tiêu chuẩn thành quyết định thi công, bạn mới khai thác hết giá trị của quy chuẩn xây nền nhà chống nồm.
Nhà xây mới nên áp dụng quy chuẩn thế nào để tránh nồm ngay từ đầu?
Với nhà xây mới, lợi thế lớn nhất nằm ở việc chủ động ngay từ cao độ và cấu tạo nền, thay vì phải xử lý bị động khi công trình đã hoàn thiện. Nếu nền nhà được thiết kế và thi công đúng ngay từ đầu, nguy cơ nồm ẩm về sau sẽ giảm đáng kể, đồng thời tránh được các phương án cải tạo tốn kém.
Bước đầu tiên cần thực hiện là khảo sát và xử lý đất nền. Theo TCVN 9359:2012, đất nền phải được đầm chặt, đạt độ ổn định cần thiết và đảm bảo bề mặt tương đối phẳng. Việc đầm nền không đạt yêu cầu có thể dẫn đến lún cục bộ trong quá trình sử dụng. Khi hiện tượng lún xảy ra, các lớp phía trên như lớp ngăn nước hoặc lớp liên kết dễ bị rách, nứt. Hệ quả là hơi ẩm từ nền đất xâm nhập lên kết cấu sàn, làm tăng nguy cơ xuất hiện nồm.
Sau khi xử lý đất nền, lớp bê tông chịu lực hoặc bê tông gạch vỡ được thi công để tạo nền ổn định cho toàn bộ hệ sàn. Trong nhiều cấu tạo điển hình của TCVN, chiều dày lớp này thường dao động trong khoảng 70–100 mm, tùy loại bê tông và điều kiện công trình. Điểm quan trọng không chỉ nằm ở chiều dày, mà còn ở độ phẳng và độ đặc chắc của bề mặt, bởi đây là nền trực tiếp cho các lớp chức năng phía trên.

Tiếp theo là lớp ngăn nước mao dẫn, có nhiệm vụ hạn chế hơi ẩm từ dưới đất xâm nhập vào lớp cách nhiệt. TCVN 9359:2012 cho phép sử dụng nhiều giải pháp như giấy dầu, màng polyetylen hoặc sơn bitum cao su. Khi thi công, lớp ngăn nước cần được trải liên tục, các mối nối phải kín và có biện pháp xử lý mép vén lên chân tường để tránh hiện tượng thấm ngược tại các điểm tiếp giáp.
Sau lớp ngăn nước là lớp cách nhiệt, đóng vai trò then chốt trong việc chống nồm. Với nhà xây mới, chủ đầu tư có thể linh hoạt lựa chọn giữa vật liệu dạng tấm hoặc dạng rời, tùy theo cao độ và điều kiện thi công. Tấm EPS giúp kiểm soát tốt chiều dày và thi công nhanh. Gạch gốm bọt vừa có khả năng chịu lực, vừa có tính cách nhiệt ổn định. Trong khi đó, xỉ lò cao dạng hạt thường cần chiều dày lớn hơn, nhưng tạo được lớp đệm nhiệt hiệu quả nếu được thi công đúng kỹ thuật.
Cuối cùng là lớp mặt hoàn thiện, nơi tiếp xúc trực tiếp với không khí trong nhà. TCVN khuyến nghị sử dụng lớp mặt có độ dày vừa phải, chẳng hạn gạch men sứ không vượt quá 7 mm, nhằm hạn chế hiện tượng tích nhiệt. Vữa lát cần được trộn đúng mác, thi công với độ dày hợp lý và tránh để dư nước, vì độ ẩm trong vữa có thể ảnh hưởng đến các lớp phía dưới.
Khi toàn bộ chuỗi cấu tạo này được thực hiện đồng bộ, nền nhà sẽ có khả năng ổn định nhiệt tốt hơn, bề mặt sàn ít bị lạnh đột ngột trong điều kiện không khí ẩm. Đây chính là cách áp dụng quy chuẩn xây nền nhà chống nồm một cách bài bản và hiệu quả cho nhà xây mới, thay vì xử lý chắp vá khi công trình đã đưa vào sử dụng.
Nhà cải tạo, không hạ cốt nền được vẫn có cách bám tiêu chuẩn
Cải tạo khó vì vướng cao độ cửa, bậc, vệ sinh, và thang. Bạn muốn chống nồm, nhưng không muốn đội nền quá cao. TCVN có mục nói về nền nhà cải tạo, nhấn mạnh nguyên tắc chọn vật liệu có tính năng kỹ thuật cao để giảm độ dày.
Với cải tạo, bạn thường đi theo hướng “mỏng, nhẹ, đủ lớp”. EPS cường độ cao là lựa chọn phổ biến vì cho lớp mỏng. Gạch gốm bọt mỏng cũng là phương án đáng cân nhắc. TCVN có ví dụ cấu tạo kết hợp EPS và gạch gốm bọt. Ví dụ đó cho thấy hiệu quả tốt hơn khi EPS nằm sát lớp mặt, so với phương án sắp xếp khác. Nội dung này nằm trong phần ví dụ tính toán của tiêu chuẩn.

Một điểm hay của cải tạo là bạn có thể thay lớp mặt. TCVN nêu các mốc độ dày nhỏ, như gạch men sứ ≤ 7 mm, composite ≤ 7 mm. Nếu bạn chọn vật liệu mặt mỏng, bạn “dành” cao độ cho lớp cách nhiệt.
Trong thực tế, nhiều nhà cải tạo chỉ dán sàn nhựa lên gạch cũ. Cách đó tạo cảm giác ấm hơn, nhưng không giải quyết triệt để nền lạnh. Bạn vẫn có ngưng tụ trong lớp, rồi mốc keo. Vì vậy, cải tạo muốn bền cần một lớp cách nhiệt đúng nghĩa, kèm lớp ngăn nước. Khi làm như vậy, bạn vẫn bám theo quy chuẩn xây nền nhà chống nồm mà không phải đập nền sâu.
Vì sao nhà đã lát sàn mà nhà vẫn có nồm ?
Có nhà lát gạch mới, nhìn đẹp, nhưng mùa nồm vẫn “ướt như lau”. Trường hợp này thường có ba nguyên nhân.
Nguyên nhân thứ nhất là lớp dưới thiếu cách nhiệt. Nền bê tông tiếp đất giữ lạnh. Gạch chỉ là lớp phủ. Không khí ẩm chạm sàn lạnh, nước ngưng tụ.
Nguyên nhân thứ hai là ẩm từ nền đất hoặc chân tường tăng. Nếu lớp chống thấm bị lỗi, nước mao dẫn có thể làm nền ẩm. Khi nền ẩm, nhiệt dung tăng, sàn càng “lì”. Vậy nên, cảm giác nồm tăng.
Nguyên nhân thứ ba là thông gió và vận hành. Nếu nhà đóng kín, hơi ẩm tích lại. Khi độ ẩm tương đối lên cao, điểm sương cao. Bề mặt sàn rất dễ thấp hơn điểm sương.
Cách xử lý cần theo thứ tự. Bạn kiểm tra dấu hiệu ẩm chân tường. Bạn kiểm tra mạch gạch, đường nước, và khu vệ sinh. Sau đó, bạn mới quyết định hướng cải tạo. Với nhà đã lát, giải pháp thường là cải tạo theo khu vực trọng điểm, như phòng khách và phòng ngủ, rồi kiểm tra hiệu quả. Kết luận cần dựa trên nguyên tắc của quy chuẩn xây nền nhà chống nồm.
Có cần tính hệ số Y, D như tiêu chuẩn không, hay chỉ cần làm theo mẫu?
TCVN 9359:2012 có phụ lục tính toán. Trong đó có công thức liên quan quán tính nhiệt D, và hệ số hàm nhiệt Y. Tiêu chuẩn cũng đưa ví dụ với bảng vật liệu, chiều dày, rồi tính ra Y. Mục tiêu là đánh giá khả năng chống nồm theo định lượng.
Với nhà ở dân dụng, đa số chủ nhà không cần tự tính. Tuy vậy, bạn vẫn nên hiểu “tinh thần” của công thức. Công thức cho thấy cách nhiệt và cách nước làm thay đổi đặc tính bề mặt. Khi Y nhỏ, sàn đổi nhiệt nhanh, bề mặt ít bị lạnh kéo dài.
Nếu công trình lớn, hồ sơ thiết kế thường yêu cầu tính. Nếu nhà dân, bạn có thể áp dụng theo cấu tạo mẫu. TCVN có Phụ lục C đưa nhiều mẫu điển hình, như mẫu dùng EPS, mẫu dùng gạch gốm bọt, mẫu dùng khoang không khí kín. Bạn có thể dùng mẫu làm “chuẩn tham chiếu”. Khi bạn áp dụng mẫu hợp lý, bạn vẫn theo quy chuẩn xây nền nhà chống nồm mà không sa vào công thức.
Trong Phụ lục C, tiêu chuẩn nêu nhiều mẫu. Bạn không cần nhớ số thứ tự, nhưng nên hiểu logic.
Có mẫu dùng xỉ lò cao dạng hạt. Mẫu này thường có lớp cách nhiệt dày, phù hợp nhà mới có cao độ. Chú dẫn có nêu phạm vi khối lượng thể tích và hệ số dẫn nhiệt theo lớp không khí kín. Đó là cách tiêu chuẩn kiểm soát thông số.
Có mẫu dùng tấm granitô với lớp không khí kín khoảng 20 mm. Cấu tạo này dựa vào việc tạo lớp đệm khí. Không khí tĩnh có tính cách nhiệt nhất định. Tuy vậy, thi công cần kín và ổn định.
Có mẫu dùng sàn gỗ đặt trên dầm tạo kênh không khí kín. Mẫu này phù hợp với nhà muốn sàn gỗ. Kênh khí đóng vai trò đệm nhiệt.
Có mẫu dùng EPS cường độ cao, liên kết với gạch men sứ qua keo dán hoặc sơn bitum cao su. TCVN nêu EPS dày khoảng 25 mm, kèm yêu cầu Rn ≥ 200 N, và g₀ khoảng 35–60 kg/m³. Đây là mốc số liệu rất quan trọng, vì nó giúp chọn đúng loại EPS.
Có mẫu dùng gạch gốm bọt, kết hợp hai lớp cách nước. Mẫu này phù hợp khi muốn vật liệu chịu lực hơn.
Có mẫu kết hợp EPS và gạch gốm bọt. Mẫu này tạo “tổ hợp” cách nhiệt. Tiêu chuẩn còn so sánh vị trí EPS, rồi chỉ ra phương án tốt hơn trong ví dụ tính toán. Khi xem các mẫu như menu, bạn chọn phù hợp.
Lớp không khí kín có phải “mẹo” thay cách nhiệt không?
Nhiều người nghe “khoang khí 20 mm” rồi nghĩ chỉ cần tạo khoảng rỗng là xong. Thực tế cần thận trọng. Bởi:
Không khí tĩnh có thể cách nhiệt, đúng. Tuy vậy, khoang khí chỉ hiệu quả khi kín, và không đối lưu. Nếu khoang thông với môi trường, không khí chuyển động, hiệu quả giảm. Ngoài ra, khoang có thể tích tụ ẩm nếu có đường thấm. Khi đó, rủi ro mốc tăng.
TCVN có đoạn nói về lớp không khí kín trong kết cấu, coi hệ số hàm nhiệt của lớp khí gần bằng không. Nội dung đó xuất hiện trong phần tính toán. Bạn nên hiểu đây là giả định cho trường hợp khoang kín đúng chuẩn.
Vì vậy, khoang khí có thể là một phần giải pháp. Nó không thay thế hoàn toàn lớp cách nhiệt, nhất là ở nền tiếp đất. Nếu công trình mới, bạn nên ưu tiên lớp cách nhiệt vật liệu rõ ràng. Nếu cải tạo, khoang khí có thể hỗ trợ trong cấu tạo sàn gỗ.
Thi công nền nhà chống nồm và các điểm kiểm soát quan trọng nhất
Trong quy chuẩn xây nền nhà chống nồm, TCVN 9359:2012 đặc biệt nhấn mạnh khâu thi công và kiểm tra chất lượng, vì đây là yếu tố quyết định nền nhà có phát huy đúng chức năng hay không. Trước hết, đất nền phải được đầm chặt và tương đối phẳng. Nếu nền bị lún, các lớp phía trên dễ nứt vỡ, tạo điều kiện cho nước và hơi ẩm xâm nhập, từ đó làm tăng nguy cơ nồm.

Tiếp theo là thi công lớp bê tông lót hoặc bê tông gạch vỡ. Bề mặt lớp này cần được láng phẳng bằng vữa xi măng cát, thường dày khoảng 10–20 mm, để chuẩn bị cho lớp ngăn nước. Khi làm lớp cách nước, vật liệu phải được trải kín, liền mạch, xử lý cẩn thận tại các mối nối và vén lên chân tường. Với vật liệu dạng sơn, cần thi công đủ số lớp theo hướng dẫn kỹ thuật.
Ở các bước sau, lớp cách nhiệt phải bảo đảm khô, không nhiễm ẩm, với mốc kiểm soát độ ẩm không vượt quá 12% theo tiêu chuẩn. Khi lát lớp mặt hoàn thiện, vữa cần vừa nước để hạn chế ẩm khuếch tán xuống dưới, đồng thời kiểm tra mạch lát no và kín. Việc kiểm soát đúng các điểm này giúp quá trình nghiệm thu sát thực tế và phản ánh đúng tinh thần thi công của quy chuẩn xây nền nhà chống nồm.
Những hiểu lầm phổ biến khiến chống nồm sai hướng
Dưới đây là các sai lầm phổ biến làm cho việc chống nồm không hiệu quả mà ít ai nói cho bạn biết, bao gồm:
Đồng nhất nồm ẩm với hiện tượng thấm nước
Nhiều người cho rằng nền nhà bị nồm là do nước từ dưới đất thấm lên, nên chỉ tập trung xử lý bằng các lớp chống thấm. Cách tiếp cận này bỏ qua yếu tố nhiệt, vốn là nguyên nhân trực tiếp gây ngưng tụ hơi nước trên bề mặt sàn. Khi nền nhà vẫn lạnh, dù có chống thấm tốt, hơi ẩm trong không khí vẫn có thể đọng lại. Kết quả là nền nhà tiếp tục ướt, khiến chủ nhà thất vọng vì “đã chống thấm mà vẫn nồm”.
Dùng sàn phủ để che nồm thay vì xử lý từ cấu tạo nền
Sàn nhựa, thảm hoặc các lớp phủ bề mặt thường tạo cảm giác ấm chân khi sử dụng, nhưng không giải quyết được bản chất của nồm ẩm. Hơi nước vẫn có thể ngưng tụ bên dưới lớp phủ, đặc biệt khi nền bê tông phía dưới lạnh. Trong điều kiện ẩm kéo dài, lớp keo dán và bề mặt tiếp xúc dễ phát sinh nấm mốc, gây mùi khó chịu và ảnh hưởng đến tuổi thọ vật liệu hoàn thiện.

Cho rằng thiết bị hút ẩm có thể thay thế cấu tạo nền
Máy hút ẩm hoặc điều hòa giúp giảm độ ẩm không khí trong thời gian ngắn, nên nhiều gia đình coi đây là giải pháp chính. Tuy nhiên, khi thiết bị ngừng hoạt động, nền nhà vẫn giữ nhiệt độ thấp, và hiện tượng nồm có thể quay trở lại. Theo quy chuẩn xây nền nhà chống nồm, thiết bị cơ khí chỉ được xem là biện pháp hỗ trợ, không thể thay thế vai trò của lớp cách nhiệt trong cấu tạo nền.
Lựa chọn vật liệu cách nhiệt không phù hợp về cơ tính
Một số công trình sử dụng EPS thông thường, không kiểm soát cường độ chịu nén. Theo TCVN 9359:2012, vật liệu cách nhiệt cần đáp ứng các yêu cầu cơ học nhất định, trong đó có mốc cường độ chịu nén Rn trong các mẫu cấu tạo. Nếu dùng EPS kém chất lượng, vật liệu có thể bị xẹp dưới tải trọng sàn, làm giảm hiệu quả cách nhiệt và phá vỡ cấu tạo nền ban đầu.
Bỏ qua các chi tiết kỹ thuật tại mép nền và vị trí tiếp giáp
Các vị trí như chân tường, cổ ống kỹ thuật, khe tiếp giáp sàn – tường thường bị xem nhẹ trong quá trình thi công. Chỉ cần một điểm rò nhỏ tại các khu vực này, hơi ẩm có thể xâm nhập và lan rộng trong kết cấu nền. Khi nền bị ẩm kéo dài, hiệu quả của toàn bộ hệ sàn suy giảm, dù các lớp vật liệu khác được thi công đúng kỹ thuật.
Quy trình ra quyết định khi áp dụng quy chuẩn xây nền nhà chống nồm
- Xác định đúng tình trạng công trình
- Nhà xây mới hay nhà cải tạo.
- Nền nhà có tiếp xúc trực tiếp với đất hay không.
- Khu vực xây dựng có xuất hiện mùa nồm rõ rệt hay chỉ ẩm theo thời điểm.
- Lựa chọn cấu tạo nền phù hợp với từng trường hợp
- Nhà xây mới: ưu tiên cấu tạo đủ các lớp theo tiêu chuẩn.
- Nhà cải tạo: chọn phương án mỏng, hạn chế thay đổi cao độ.
- Nhà hoàn thiện sàn gỗ: cân nhắc nhóm cấu tạo có khoang không khí kín.
- Công trình nền thấp: ưu tiên vật liệu nhẹ để giảm tải và chiều dày.
- Yêu cầu rõ ràng về vật liệu và thông số kỹ thuật
- Với EPS: kiểm tra khối lượng thể tích và cường độ chịu nén.
- Với gạch gốm bọt: đối chiếu thông số kỹ thuật và độ đồng đều sản phẩm.
- Với xỉ lò cao: kiểm soát độ ẩm vật liệu và phương pháp thi công.
- Chốt các điểm kiểm tra và nghiệm thu quan trọng
- Kiểm soát độ ẩm vật liệu cách nhiệt theo mốc trong TCVN.
- Kiểm tra lớp ngăn nước, bảo đảm không rách, không hở mối nối.
- Đối chiếu cao độ và độ phẳng trước khi thi công lớp mặt.
- Vận hành và sử dụng nhà ở hợp lý sau khi hoàn thiện
- Hạn chế mở cửa khi không khí ngoài trời có độ ẩm cao.
- Ưu tiên thông gió vào thời điểm phù hợp trong ngày.
- Sử dụng thiết bị hút ẩm như giải pháp hỗ trợ, không thay thế cấu tạo nền.
Vai trò của Vận Tải An Khang trong quá trình xử lý nền nhà chống nồm
Trong thực tế, nhiều vấn đề về nền nhà không chỉ xuất phát từ khâu thi công mới, mà bắt nguồn ngay từ hiện trạng công trình cũ. Nền nhà thấp, kết cấu cũ bị ẩm lâu năm, lớp bê tông yếu hoặc vật liệu tồn dư sau phá dỡ không được xử lý triệt để đều làm tăng nguy cơ nồm. Nếu không giải quyết dứt điểm phần nền cũ, việc áp dụng quy chuẩn xây nền nhà chống nồm về sau sẽ gặp nhiều rủi ro.
Với các công trình cải tạo hoặc xây mới trên nền nhà cũ, Vận Tải An Khang đóng vai trò quan trọng ngay từ giai đoạn đầu. Đội ngũ chuyên thu mua xác nhà, phá dỡ nhà giúp tháo dỡ gọn gàng phần kết cấu cũ, bóc tách sạch lớp nền không còn đạt yêu cầu, đồng thời phân loại và vận chuyển phế thải ra khỏi công trình. Việc làm sạch nền triệt để giúp quá trình xử lý đất nền, đầm nền và bố trí các lớp cấu tạo mới diễn ra thuận lợi, đúng kỹ thuật.
Khi mặt bằng được giải phóng đúng cách, đội thi công có điều kiện kiểm soát cao độ và cấu tạo nền ngay từ đầu, hạn chế phát sinh sửa chữa trong quá trình làm sàn mới. Chủ nhà cũng dễ dàng nghiệm thu từng hạng mục, từ xử lý nền đất đến lớp cách nhiệt và lớp mặt hoàn thiện. Nhờ đó, việc áp dụng quy chuẩn xây nền nhà chống nồm trở nên nhất quán và hiệu quả hơn, dù công trình là nhà phố cải tạo hay nhà cấp bốn xây mới trên nền cũ.
Kết luận
Chống nồm bền không nằm ở mẹo, mà nằm ở cấu tạo. TCVN 9359:2012 đưa ra khung tiêu chuẩn rất rõ, từ nguyên tắc điểm sương đến lớp vật liệu. Các mốc số liệu như gạch men sứ ≤ 7 mm, gạch gốm ≤ 10 mm, EPS 35–60 kg/m³, Rn ≥ 200 N, hay yêu cầu độ ẩm vật liệu cách nhiệt, đều có giá trị thực tế khi thi công.
Khi bạn chuyển tiêu chuẩn thành “cách làm”, bạn không cần học thuộc phụ lục. Bạn chỉ cần chọn cấu tạo phù hợp, kiểm soát lớp cách nhiệt và lớp ngăn nước, rồi nghiệm thu theo checklist. Làm được như vậy, nền nhà sẽ ít bị “đổ mồ hôi” khi trời nồm. Đó là cách áp dụng quy chuẩn xây nền nhà chống nồm theo hướng dễ hiểu, và dễ triển khai.


